Điều tra nhiễm lao, bệnh lao ở Quảng ngãi, Việt nam năm 1966

Ngày đầu năm, lên thư viện của Bệnh viện, với tay lấy một cuốn sách như một thói quen, tình cờ mở ra thấy được bài này. Về nhà search trên Sciendirect cũng có nhưng phải trả phí http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0041387971900304. Cảm giác đầu tiên là thấy vui, trân trọng khi tri thức được lưu giữ và bảo tồn qua thời gian. Mỗi kết quả nghiên cứu không chỉ là công sức, tiền bạc của những nhà khoa học mà còn là đóng góp của những người tham gia, những người bệnh. Niềm tin và niềm vui vào khoa học lại được nhen lên trong lòng tôi trong những ngày đầu năm Giáp Ngọ. Bản dịch và phần bàn luận chắc còn nhiều thiếu sót nhưng cứ để thì cũng mai chẳng up lên được nên xin mọi người lượng thứ.

Tóm tắt

Điều tra về bệnh lao được thực hiện ở Quảng ngãi, một tỉnh phía Nam Việt nam năm 1966, kết quả này so sánh với kết quả điều tra của WHO tại Sài gòn vào năm 1962

Dân số Quảng ngãi xấp xỉ 700.000, kết quả xét nghiệm được thực hiện trên 20,798 người. Xét nghiệm Mantoux được  sử dụng trong nghiên cứu theo tiêu chuẩn của  W.H.O. Mantoux,  0·l.  1 TU PPD RT23 có Tween 80, liều này tương đương với   3 TU chuẩn quốc tế với  PPD-S. Ngưỡng xác định dương tính khi đường kính cục sẩn từ   8 mm. trở lên. Xét nghiệm tìm vi khuẩn và chụp xquang được thực hiện cho những người có phản ứng dương tính. 

Tỷ lệ dương tính và giả định nhiễm lao tăng từ 5.4% ở lứa tuổi dưới 5 lên 60,6% cho lứa tuổi từ 30-39. Tăng nhanh nhất ở nhóm tuổi   10 - 14 (20·7%) và 15–19 (40·5%). Trong điều tra ở Sài gòn, nhóm trẻ dưới 5  tỷ lệ nhiễm là 11·0% , nhóm trẻ 15–19 79·6%.

Trong số  4,714 (83 %  của  5,672 phản ứng Mantoux dương tính được làm xét nghiệm đờm; tất cả nhóm này tuổi trên 14  .  33% đờm soi dương tính.  Số ca bệnh lao “mở” ước tính là từ 0-7%  so sánh với điều tra ở Sài gòn, trong nghiên cứu này có   7,395 mẫu đờm được kiểm tra, có  69 (0–9 %) dương tính.

Trong tổng số  4,321 (76 %) được kiểm tra bằng phim chụp xquang, 389 (9 %) số trường hợp được kết luận có tổn thương lao. Ước tính tỷ lệ lao phổi dựa trên phim X/quang ở những người có phản ứng Mantoux dương tính ở Quảng ngãi là 9%.  Trong điều tra dịch tễ ở sài gòn, có 7.395 trường hợp được kiểm tra x/quang, 767 (10,4 %) có bất thường trên phổi do lao.

Vào năm 1968, dân số ước tính nhóm tuổi trên 14 là 400,000; khoang 50% của những trường hợp này có phản ứng Mantoux dương tính, trong số đó 9% có tổn thương lao phổi trên phim Xq. Ty lệ hiện mắc ước tính là  45 trên 1,000 ( 4500/100.000). Như vậy có khoảng 18.000 ca bệnh và nghi ngờ ca lao phổi trong tỉnh, và trên 1.400 ( 0.7%) đang là nguồn lây. 

Tỷ lệ nhiễm lao cao hơn 3 lần ở Sài gòn với nhóm tuổi dưới 14, và gấp hai lần cho nhóm tuổi trên 14.  Tỷ lệ xét nghiệm đờm dương tính xấp xỉ lần lượt là  0·7% và 0·9%  Chỉ số tuberculin  nhóm tuổi 0-4 có sự khác nhau đáng kể lần lượt là  11·0%  và 5,4 %  

Bàn luận theo quan điểm cá nhân: 

Đây là một điều tra dịch tễ về tỷ lệ nhiễm lao và bệnh lao trong số người được xác định là nhiễm lao ở một địa phương miền Trung Việt nam vào thời điểm những năm 1966. Với liều lượng theo chuẩn quốc tế là 3TU ( chuẩn với PPD-S) và ngưỡng xác định dương tính là cục sẩn có đường kính 8mm trở lên. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm lao là 5,4% ở lứa tuổi trẻ dưới 5 tuổi và 60,6% ở nhóm 30-39 tuổi. Thời điểm này chưa có vaccin BCG, như vậy tỷ lệ Mantoux (+), hay nhiễm lao ở đây là do tình trạng bệnh lao trong cộng đồng hoặc do các vi khuẩn Mycobacteria trong tự nhiên. Kết quả này cao có thể do ngưỡng tiêu chuẩn là 8mm so với 10mm để xác định là nhiễm lao, tuy nhiên liều lượng BCG lại thấp hơn, 3TU so với 5TU hiện nay. Như vậy khó trong việc phiên giải kết quả này so với những kết quả hiện nay.  Một số ước tính tỷ lệ mắc lao hiện nay của Việt nam vẫn nằm trong khoảng số đó. 

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ hiện mắc ước tính trong số nhóm có tổn thương lao phổi trên phim Xquang là 45/1.000 dân, tương đương 4500/100.000 dân, số ca bệnh ước tính này dựa trên sàng lọc này thực hiện trên nhóm có tình trạng nhiễm lao, nếu so  so với tỷ lệ hiện mắc ước tính hiện nay ở Việt nam là 245/100.000 dân quần thể dân số nói chung. Mặc dù việc so sánh có thể khập khiễn những cũng có thể nói được rằngbệnh lao đã giảm hơn rất nhiều so với trước đây. Tuy nhiên còn rất lâu để chúng ta có một tỷ lệ lao hiện mắc khoang 3-4/100.000 dân như ở Mỹ hoặc Úc trong những năm gầy đây. Bệnh lao là một bệnh nhiễm trùng, một số bệnh nhiễm trùng có chu kỳ bắt đầu, đạt đỉnh và giảm dần trong vòng vài tuần hoặc vài tháng: vd: cúm, thủy đậu, sởi…., bệnh lao được xác định có chu kỳ bệnh có thể hàng chục năm hoặc hàng trăm năm tùy theo từng quốc gia khu vực.

Như vậy một quốc gia nào có thể đang ở giai đoạn đỉnh của bệnh, nhưng cũng ở một quốc gia khác có thể bệnh lại đang bắt đầu đi xuống….Ngoài ra kiểm soát lao không chỉ phụ thuộc vào việc phát hiện điều trị bệnh mà còn phụ thuộc vào đời sống kinh tế của một quốc gia, đời sống tăng giúp tỷ lệ bệnh lao đi xuống và ngược lại. Qua đây có thể kết luận rằng trong nửa thập kỷ qua tỷ lệ bệnh lao ở Việt nam đã giảm một cách đáng kể dù rằng tỷ lệ nhiễm lao dường như vẫn không thay đổi. Đề giảm tỷ lệ bệnh lao thì ngoài giảm tỷ lệ hiện mắc bệnh còn cần giảm tỷ lệ nhiễm lao, vì những người nhiễm lao cũng có thể nói chính là những bệnh nhân lao tiềm tàng cho đến lúc cơ thể biểu hiện bệnh.

Kết luận: Từ những năm 1966, đã có những điều tra dịch tễ về bệnh lao tại địa phương, trong đó sử dụng những phương pháp xác định nhiễm lao và bệnh lao không khác biệt nhiều so với những điều tra dịch tễ gần đây. Mặc dù có khác biệt trong phương pháp, tiêu chuẩn, tuy nhiên có thể kết luận là sau ½ thế kỷ, tỷ lệ bệnh lao ở Viêt nam đã giảm rất nhiều. 

http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0041387971900304

Gửi bình luận


Họ tên  
Email  
Tiêu đề  
 
Gởi