Tiến bộ trong hiểu biết về bệnh lao 2011-2012 ở trẻ em

Chẩn đoán vi sinh vật chính xác khó khăn vì các xét nghiệm thường quy hiện nay có độ nhậy thấp, đặc biệt là soi trực tiếp, khó khăn hoặc không thể lấy được bệnh phẩm phù hợp ở trẻ em [24]. Tuy nhiên chẩn đoán vi sinh từ bệnh phẩm lấy đờm tác động được báo cáo có tính khả thi và hiệu quả ở trẻ em đủ mọi lứa tuổi, kể cả trẻ nhỏ dưới 1 tuối. Soi trực tiếp và nuôi cấy hai mẫu đờm tác động tìm vi khuẩn lao tăng 22% ở trẻ em thực hiện tại y tế cơ sở[25] Gần đây Xpert MTB/Rif cho phép chẩn đoán nhanh, chính xác lao và phát hiện kháng rifampicin. Nghiên cứu về lao ở trẻ em cho thấy kỹ thuật Xpert thực hiện trên hai mẫu bệnh phẩm đờm tác động có thể phát hiện khoảng 75% những trường hợp có nuôi cấy khẳng định dương tính sau đó, ngoài ra xét nghiệm có độ đặc hiệu rất cao [26 27].

LAO TRẺ EM

 Ước tính lao ở trẻ em  khoảng 3.5% số trường hợp lao trên toàn cầu của 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao. Trẻ sống cùng hộ gia đình với người nhiễm HIV cũng có nguy cơ tiếp xúc và lây nhiễm lao cao hơn. Những nghiên cứu gần đây về lao trẻ em đã đem lại nhiều hiểu biết mới về mức độ trầm trọng của lao trẻ em, các công cụ chẩn đoán mới, tiến bộ trong chiến lược dự phòng.

Một định nghĩa dựa trên đồng thuận quốc tế từ các ý kiến chuyên gia được công bố gần đây nhằm thúc đẩy các thử nghiệm vaccin và tiêu chuẩn chẩn đoán liên quan đến lao ở trẻ em. Bằng chứng về việc nhiễm khuẩn có thể được quyết định dựa trên xét nghiệm TST hoặc xét nghiệm interferon gamma assay (IGRA). TCYTTG không khuyên cáo việc sử dụng  IGRA thay thế cho xét  nghiệm TST do liên quan đến giá thành, yêu cầu về cơ sở vật chất, việc sử dụng bệnh phẩm máu và độ nhậy thấp ở nhưng nơi bệnh lao không phải là vấn đề dịch tễ [23].

Chẩn đoán vi sinh vật chính xác khó khăn vì các xét nghiệm thường quy hiện nay có độ nhậy thấp, đặc biệt là soi trực tiếp, khó khăn hoặc không thể lấy được bệnh phẩm phù hợp ở trẻ em [24]. Tuy nhiên chẩn đoán vi sinh từ bệnh phẩm lấy đờm tác động được báo cáo có tính khả thi và hiệu quả ở trẻ em đủ mọi lứa tuổi, kể cả trẻ nhỏ dưới 1 tuối. Soi trực tiếp và nuôi cấy hai mẫu đờm tác động tìm vi khuẩn lao tăng 22% ở trẻ em thực hiện tại y tế cơ sở[25] Gần đây Xpert MTB/Rif cho phép chẩn đoán nhanh, chính xác lao và phát hiện kháng rifampicin. Nghiên cứu về lao ở trẻ em cho thấy kỹ thuật Xpert thực hiện trên hai mẫu bệnh phẩm đờm tác động có thể phát hiện khoảng 75% những trường hợp có nuôi cấy khẳng định dương tính sau đó, ngoài ra xét nghiệm có độ đặc hiệu rất cao [26 27].  

Dự phòng và quản lý bệnh lao

Tiêm chủng bằng BCG vẫn là một phần quan trọng của chương trình tiêm chủng mở rộng ở những quốc gia có tỷ lệ bệnh cao. Tuy nhiên nghiên cứu bênh-chứng ở  Tanzania cho thấy trẻ em đã tiêm  BCG (xác định bằng sẹo BCG) giảm 70% nguy cơ mắc lao họat động ở người trưởng thành nhiễm HIV và không nhiễm HIV  (OR 0.3, 95% CI 0.2 to 0.7).. Mặc dù nguy cơ cao nhất ở những trường hợp người lớn đờm dương tính, nhưng nguy cơ vẫn đáng kể khi tiếp xúc với người trưởng thành xét nghiệm đờm âm tính. Kết quả này nhấn mạnh việc cần thiết triển khai dự phòng sau tiếp xúc ở trẻ. So sánh chi phí hiệu quả chiến lược sàng lọc xác định trẻ có tiếp xúc nguồn lây kết quả thấy rằng việc cung cấp dự phòng theo tuổi và báo cáo phơi nhiễm ( không dựa vào TST hoặc  IGRA testing) có hiệu quả về chiến lược giá thành nhất ở trẻ em dưới 2 tuổi 31  Tuy nhiên, những nghiên cứu về dự phòng nguyên phát sử dụng INH ở trẻ có nhiễm HIV sống tại những nơi có tỷ lệ TB cao đưa lại những kết quả khác nhau.  Nguy cơ bệnh lao giảm 90%  đáng kể ở bệnh nhân sử dụng thuốc kháng virut   HAART hoặc INH.  TCYTTG đã công bố hướng dẫn về dự phòng nguyên phát ( dự phòng trước khi nhiễm bệnh ) ở trẻ nhiễm HIV trên 1 tuổi sống ở những nơi có tỷ lệ bệnh lao cao. Nghiên cứu phân tích tổng hợp về thuốc lao và hiệu quả điều trị ở trẻ em cho thấy trẻ nhỏ dùng liều hàng ngày có nhiều khả năng được chữa khỏi cao so với dùng liều cách quãng,

NGHIÊN CỨU ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI

Yêu cầu cấp thiết về việc phát triển phương pháp tiếp cận chẩn đoán điều trị, dự phòng trong bệnh lao.  Phát triển các dấu ấn sinh học có thể phát hiện bệnh, khả năng bảo vệ, tình trạng nhiễm bệnh hoặc bệnh là những hướng nghiên cứu cần ưu tiên.  Các Proteonomic , genomic biomarkers nhằm xác định các đáp ứng đặc hiệu với bệnh lao cũng cần được tìm hiểu.  Các phác đồ điều trị, hiệu quả hơn, thời gian ngắn hơn  trong dự phòng hoặc điều trị bệnh cần được nghiên cứu. Phát triển vacin an toàn có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi bệnh lao phổi có thể thành hiện thực trong thời gian tới.

Gửi bình luận


Họ tên  
Email  
Tiêu đề  
 
Gởi