Y học bằng chứng

(Evidence-based medicine) EBM, y học dựa trên bằng chứng, hay còn được gọi là y học thực chứng, được khởi xướng bởi Gs chuyên ngành dịch tễ học người Canada vào những năm 1986, theo ông Y học không thể đặt tất cả gánh nặng lên vài trò của người thầy thuốc, thầy thuốc không phải là trung tâm của quy trình khám chữa bệnh mà chỉ là một phần trong hoạt động đó. Theo ông EBM là sự “ Vận dụng một cách thận trọng, chính xác và rõ ràng tất cả các dữ liệu nghiên cứu thu được tốt nhất hiện có, đồng thời kết hợp với kinh nghiệm lâm sàng ,kỹ năng nghề nghiệp của thầy thuốc, cùng với tham khảo nguyện vọng và yêu cầu của người bệnh” 

Ít nhất có 3 thành phần trong EBM.

-         Bằng chứng y học hiện tại tốt nhất

-         Kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm lâm sàng của người thầy thuốc

-         Giá trị hay mối quan tâm của người bệnh

Sự ra đời của EBM đã tạo nên một cuộc tranh luận kéo dài giữa y học kinh điển, vài trò của người thầy thuốc là trung tâm, và những người theo khuynh hướng EBM, vai trò của người thầy thuốc chỉ còn là một thành tố trong hoạt động y học. Những người ủng hộ trường phái y học kinh điển cho rằng, việc vận dụng EBM sẽ khiến thực hành y học trở nên như  một công thức, đơn giản hóa, đánh mất vai trò của người thầy thuốc,  hay nói cách khác là đã làm mất đi tính nghệ thuật, hàn lâm trong hoạt động chẩn đoán điều trị. Về riêng điểm này, những người theo trường phái EBM hoàn toàn không phủ nhận vai trò của người thầy thuốc mà chỉ nhấn mạnh rằng đó không phải là tất cả, bằng chứng y học hiện hành tốt nhất, và giá trị hay mối quan tâm của người bệnh cần được tôn trọng ngang bằng với vai trò của người thầy thuốc.

Để thực hành EBM, người thầy thuốc lâm sàng cần có kỹ năng phát hiện vấn đề, hình thành câu hỏi (PICO), biết nơi cần tìm kiếm và loại thông tin phù hợp cần tìm kiếm, đánh giá thông tin tìm được một cách “soi xét”( critical appraisal) , mục đích nhằm tìm được “bằng chứng y học hiện tại tốt nhất”, xem xét khả năng vận dụng thông tin đó trong điều kiện thực tế.  Đây là điểm quan trọng nhất trong EBM, nếu biết rằng trong lịch sử, chúng ta đã phải trả giá bằng sinh mạng, tỷ lệ dị tật bẩm sinh, tỷ lệ tử vong tăng cao hơn do sử dụng những phương thuốc, liệu pháp điều trị mà không có bằng chứng về hiệu quả cũng như tác hại của nó, vd: Thalidomid gây hội chứng chim cánh cụt bẩm sinh, Nghiên cứu cũng cho thấy, chỉ có khoảng 20% những thực hành y khoa của chúng ta là dựa trên bằng chứng y học,  phần còn lại chúng ta không biết về hiệu quả của những thực hành này. Như vậy, rõ ràng, chúng ta cần các bằng chứng cho những hoạt động y học. Tuy nhiên, bằng chứng trong y học cần được đánh giá theo thứ tự về mức độ giá trị, trong đó bằng chứng từ các nghiên cứu phân tích tổng hợp có hệ thống được đánh giá cao nhất, tiếp sau là từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, và thấp nhất là dựa trên quan điểm cá nhân của chuyên gia.

Để thực hành EBM, người thầy thuốc cần có kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm cũng như sự “nhậy cảm” hay tính “ nghệ thuật” trong  thực hành, điều này hoàn toàn phù hợp với y học truyền thống, điều này đặc biệt đúng trong những tình huống có tính cấp cứu hay những tình huống có hạn chế về thời gian.

Để thực hành EBM, người thầy thuốc cần tôn trọng và xem xét đến những điều thuộc về giá trị và mong muốn của người bệnh, mỗi người bệnh với những sự khác biệt về điều kiện kinh tế, thể chất, văn hóa, giáo dục, chủng tộc mà sẽ có những mối quan tâm hoặc những chuẩn giá trị khác nhau, những điều này cần được xem xét và tôn trọng trong hoạt động Y học.

EBM cũng có những rào cản và hạn chế như: khả năng phát hiện vấn đề, nhu cầu về việc tìm kiếm câu trả lời, việc đòi hỏi nhiều thời gian khi vận dụng cũng là khó khăn rào cản  do khối lượng công việc, khối lượng thông tin cần xử lý ngày càng tăng hiện đã là gánh nặng với các thầy thuốc lâm sàng. Ngoài ra,  để thực hành EBM, đòi hỏi sự phát triển nền tảng về công nghệ ở một mức độ nhất định, vd: khả năng tiếp cận cơ sở dữ liệu,….. . Cùng với đó là kiến thức trong việc phiên giải các kết quả nghiên cứu, điều kiện hiện có thực tế tại cơ sở cũng là rào cản trong việc vận dụng EBM trong thực tế.

EBM đã được giảng dậy, thực hành, nghiên cứu và áp dụng trong hệ thống đào tạo, cơ sở thực hành y tế từ nhiều năm qua ở các nước phát triển. Tại Việt nam, EBM được biết đến qua những bài giảng, bài báo từ những năm 2000 và dần được sự quan tâm của những các thầy thuốc  trẻ. 

Thực hành EBM sẽ phát triển tại Việt nam hoặc ít nhất cũng ở một bộ phận các thầy thuốc có khả năng chuyên môn y học, có trình độ ngoại ngữ, say mê nghiên cứu và vận dụng nghiên cứu khoa học, tôn trọng giá trị người bệnh, mong muốn mang những điều tốt nhất có thể cho người bệnh cũng như góp phần nhỏ bé nâng cao chất lượng Y học nước nhà